. 
Giáo sư sực nhớ một điều gì đó bỗng mỉm cười: 
- Có một lần người ta hỏi vị quốc vương Ả-rập Oma-Benel-Kotan rằng ông ta nghĩ gì về châu chấu cào cào. Vị quốc vương trả lời: "Tôi mong có đầy một giỏ thứ của quí đó rồi tôi sẽ ăn cho sướng miệng..." Thời xưa, khi châu chấu bay thành những đám mây khổng lồ đến các đất nước Ả-rập thì ở Bát-đa giá thịt bị hạ... Cũng phải nói thêm rằng người ta tẩm bột châu chấu chiên bánh ăn rất ngon. 
Valia nhổ nước miếng tỏ ý ghê tởm: 
- Ôi, tởm thật! 
Ivan Germogenovich phá lên cười: 
- Lại nói đến ghê tởm rồi! Chỉ là món ăn chưa quen với cháu thôi... Chính chúng ta ăn cả các loại tôm cua, những con vật chuyên môn ăn xác thú vật chết... Chúng ta ăn rồi lại còn khen ngon nữa... Thế mà người Ả-rập lại nhìn những người ăn tôm cua với sự kinh tởm... Ngoài châu chấu ra người ta còn ăn nhiều loại côn trùng khác. Thí dụ ở Mê-hi-cô những người thổ dân nhặt trứng của những con bọ rệp nước vằn, họ gọi chúng là "hót tơn" và coi chúng là món ăn ngon nhất... Theo ý kiến của những con người sành ăn thì ve sầu cũng rất ngon. Cũng chính con ve sầu mà Anakrêon, nhà thơ cổ Hy Lạp đã từng ca ngợi trong đoản thi của mình. 
Ivan Germogenovich hắng giọng, giơ tay cao trên đầu, cất tiếng ngâm nga: 
Tuyệt diệu biết bao hỡi chú ve 
Có thể sánh ngang cùng thượng đế. 
Giáo sư vuốt râu tư lự: 
- Thế mà chính những người Hy Lạp bình thường lại rán con ve sầu sánh ngang thượng đế ấy với dầu rán và ăn ngon lành. Thậm chí cả những côn trùng như kiến có khi cũng rơi vào tay các bác đầu bếp. Có một thời ở nước Pháp người ta đã làm nước sốt bằng kiến để ăn với thịt và cá... Phải nói thêm rằng những người da đỏ rất thích những kiến bống. Họ rán chúng trên chảo rán, rắc thêm chút muối; nhưng đôi khi cũng ăn sống luôn. 
Valia hỏi: 
- Thế người ta có ăn bọ hung không hở bác? Theo cháu, đó là những con vật kinh tởm nhất. 
Ivan Germogenovich đáp: 
- Ở Ai-cập người ta làm món ăn đặc biệt từ một loại bọ hung. Những người phụ nữ nào muốn mập thì ăn món ăn này. 
Karik nói: 
- Mọi chuyện thật hay tuyệt, bây giờ thì cháu thấy rằng công việc của chúng ta sẽ tốt đẹp... Chúng ta sẽ hun khói các đùi dế mèn, sẽ làm xúc xích bướm, muối chuồn chuồn trong thùng to... Sẽ phải xây cả một nhà kho. Dưới trần nhà chúng ta sẽ treo thịt đùi và xúc xích còn dọc bên tường chúng ta sẽ để các thùng bọ rệp ngâm dấm. 
Valia hỏi: 
- Thế còn kiến? Chúng chua lắm! 
- Kiến thì chúng ta sẽ làm món dưa góp... Không, tốt hơn là sẽ làm các món gia vị. 
Ivan Germogenovich vuốt râu: 
- Tuyệt diệu, thật là tuỵêt diệu... Các bạn thấy đấy, tương lai các bạn thật là tốt đẹp. Nếu lỡ xảy ra chuyện gì và chúng ta sẽ sống ở đây sung sướng hơn mọi Robinson trên thế giới. 
Valia nói: 
- Những chuyện đó thì tốt rồi, nhưng chúng ta sẽ chết cóng vào mùa đông và tất cả những thịt đùi cùng các món ngâm dấm sẽ phí toi vô ích. 
Ivan Germogenovich an ủi Valia: 
- Không sao đâu chúng ta sẽ tìm thấy các hang động có khí đốt để sưởi. Cuối cùng thì cũng có thể dẫn khí đó bằng các ống lau sậy đến mọi nơi mà chúng ta muốn. 
Karik nói: 
- Tất nhiên rồi, khí than bùn sẽ cho chúng ta ánh sáng và sự ấm áp... Bác Ivan Germogenovich ơi, chúng ta sẽ có thể xây ở đây hàng loạt xí nghiệp nnà máy. 
Ivan Germogenovich mỉm cười: 
- Không đâu, anh bạn ơi! Nhưng chúng ta có thể thuần hoá các côn trùng... 
Karik reo lên: 
- Hoan hô! Chúng ta sẽ dùng chúng để bay, bơi qua các hồ nước... 
Valia phụ hoạ theo: 
- Chúng ta sẽ bắt chúng đào các hầm ngầm, xẻ những kênh rạch và... và nói chung - bắt chúng phải làm việc. 
Karik nói: 
- Đúng lắm! Có thể bắt những con sâu cày ruộng, bắt bọ hung đốn cây xẻ gỗ còn chuồn chuồn thì dùng để bay. 
Valia thở dài nói: 
- Để chúng ta khỏi bị ăn thịt có lẽ phải nghĩ ra các kiểu nhà như của con bọ suối để có thể mang theo người. 
Karik phẩy tay: 
- Vậy mà cũng đòi nghĩ! Anh đã bảo rằng em là một con sên. Thế mà đúng như vậy. 
Valia hỏi: 
- Thể thì chúng ta tự bảo vệ bằng cách nào? 
- Bác Ivan Germogenovich sẽ chế ra thuốc súng - Karik đáp và ngoảnh lại phía giáo sư. Bác có thể chế ra thuốc súng chứ ạ? 
Ivan Germogenovich bật cười: 
- Ồ, không... Có lẽ bác không chế ra thuốc súng đâu. Nhưng bác hy vọng rằng chúng ta cũng chẳng làm sao dù không có thuốc súng. Các bạn ơi, bác là nhà sinh vật học cơ mà. Bác biết rõ đời sống của thế giới cung quanh ta và những kiến thức ấy còn mạnh hơn tất cả các chất nổ... Còn bây giờ cháu Karik hãy ném thêm các cành cây vào đống lửa. Khi cành cây cháy nổ lách tách ta cũng thấy dễ chịu hơn. 
Karik mang tới một ôm cành cây, ném vào ngọn lửa xanh rồi nằm dài ra đất, trầm ngâm ngắm nhìn đống lửa. 
Mọi người đều im lặng. 
Cành cây vui vẻ cháy lách tách. Khói dựng thành cột vươn đến tận trời cao. 
Các khách du lịch ngồi bên ngọn lửa và mỗi người theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình. 
Chẳng có việc gì phải vội cả. 
Chừng nào sương mù còn chưa tan thì không thể di chuyển đi đâu được. Mà biết đi đâu, đi về hướng nào được? Ngọn hải đăng bây giờ ở đâu? Ở phía trước ư? Ở phía sau ư? 
Giáo sư nói: 
- Thôi tạm thời không có việc gì làm, ta hát một bài đi. 
Nhăn mặt lại vì khói và lấy tay che mặt, Karik hướng về phía đống lửa đang bốc khói, vội vã hỏi giáo sư khi ông sắp sửa cất tiếng hát: 
- Bác Ivan Germogenovich ơi, làm sao bác đoán được chuyện gì xảy ra với bọn cháu và làm sao bác tìm thấy bọn cháu? 
Giáo sư nói: 
- Rất dễ thôi cháu ạ. Các cháu đã uống hết của bác gần nửa cốc chất lỏng.. Tất nhiên bác nhận ra ngay điều đó... 
- Nhưng mà... 
Ivan Germogenovich bật cười: 
- Thì bác cũng có một cái "nhưng mà". Uống thì bọn cháu đã uống rồi, nhưng sau đó thì bọn cháu biến đi đâu?... Suốt một giờ đồng hồ bác bò lê la dưới sàn với chiếc kính lúp trong tay, nhưng... chẳng thấy gì cả... Các cháu có hiểu không? Không một dấu vết nào hết. Có nghĩa là... 
Valia nói: 
- Có nghĩa là chúng cháu đã bay đi! 
Ivan Germogenovich ngăn cô bé lại: 
- Đó là một kết luận quá vội vã. 
Valia nói: 
- Nhưng sự thực thì chúng cháu đã bay đi cơ mà? 
- Tuy nhiên bác chưa có cơ sở để giả thiết như vậy trước khi con chó của bác thợ chụp ảnh Smith đáng kính tìm thấy đống quần cụt của bọn cháu và nhảy bổ lên bậu cửa sổ... Chính lúc này bác chợt nhớ rằng, khi bác vào phòng làm việc đã thấy có chú chuồn chuồn đậu trên bậu cửa sổ. Bác đoan chắc rằng nghe thấy cả giọng nói nhỏ như tiếng muỗi kêu : "Lại đây, chúng cháu ở đây!". 
- Vâng, vâng... Chính chúng cháu đã kêu lên như vậy. 
- Lúc đầu bác tưởng rằng bác nghe nhầm, nhưng sau đó kết hợp các sự việc với nhau bác hiểu ra rằng con chuồn chuồn đã lôi mấy chú nghịch ngợm đi, và nếu như bác muốn cứu chúng thì phải chạy đến chỗ Đubki tới cái đầm mà người ta thường gọi là "đầm thối rữa". 
Karik hỏi: 
- Nhưng sao bác tới đây? Vì chuồn chuồn cũng có thể lôi bọn cháu đếnr ừng hoặc cánh đồng. 
Ivan Germogenovich mỉm cười độ lượng: 
- Không, điều đó không thể xảy ra được. Chuồn chuồn sống ở gần nước. Nó đẻ trứng xuống nước. Ấu trùng của chúng nở ra, sống và lớn lên ở dưới nước. Nhưng đôi khi đuổi theo con mồi, chuồn chuồn có thể bay xa khỏi nơi kiếm mồi thường xuyên. 
Valia nói: 
- Xa đến thế kia ạ! Vì từ nhà chúng ta đến vùng Đubki có đến hơn 15 km. 
- Đối với chuồn chuồn đó là khoảng cách không đáng kể. Nó có thể bay nhanh từ 70 đến 90 km một giờ. Vì vậy 15 cây số đối với nó chỉ là một cuộc dạo chơi nhỏ. 
- Như vậy bác đã đi tới "đầm lầy thối rữa"... 
Ivan Germogenovich vuốt râu: 
- Phải, bác quyết định đi đến đầm lầy thối rữa vì biết rằng sớm muộn gì chuồn chuồn cũng trở về chỗ kếim mồi thường xuyên. May cho tất cả chúng ta, đó là cái đầm duy nhất ở gần thành phố. Thực ra còn có cái đầm nữa nhưng nó ở cách đây xa tới 300 km. Vì vậy bác biết chắc chắn rằng phải tìm bọn cháu ở đâu... Mọi chuyện chỉ có vậy thôi. Còn bây giờ - giáo sư hắng giọng - chúng ta hát nhé các bạn. 
Valia kêu lên: 
- Khoan đã bác! 
- Sao cái gì thế? - Ivan Germogenovich lo lắng nhìn Valia. 
Valia hỏi: 
- Thế bác không muốn nghe chuyện gì đã xảy ra với chúng cháu hay sao? 
- À phải... Tất nhiên rồi... Bác rất vui lòng nghe chuyện của bọn cháu - Ivan Germogenovich nói lúng búng - Nào, nào, các cháu hãy kể đi. Chuyện đó chắc phải lý thú lắm. 
Ông quàng vai bọn trẻ và duỗi chân về phía ngọn lửa. Karik và Valia tranh nhau kể cho ông nghe chuyện gì đã xảy ra với chúng sau khi chúng uống phải chất lỏng kỳ diệu. 
Giáo sư lắng nghe bọn trẻ, gật đầu thông cảm và luôn miệng nói: 
- Đúng như vậy... Bác hiểu... 
Cuối cùng Karik nói: 
- Cháu cũng hiểu cả rồi, nhưng còn một chuyện cháu chưa hiểu được... 
- Thế à? Chuyện gì vậy? 
- Tại sao trong tổ của con nhện nước, lúc đầu chúng cháu thấy dễ thở, sau đó lại suýt chết ngạt? 
Ivan Germogenovich đáp: 
- Dễ hiểu thôi cháu ạ. Theo như cháu kể thì bác nghĩ rằng bọn cháu đã rơi vào tay loài nhện nước Argnironet... Argnironet có nghĩa là "bó sợi bạc". Người ta còn gọi nó là "nhện bạc"... Nó làm tổ ở dưới nước. Tổ của nó cũng giống như cái chuông lặn. Trước kia những người thợ lặn chui vào những cái chuông lặn ấy để lặn xuống nước. Những cái chuông này thì chỉ bé bằng trái hồ đào... Nó không nổi lên là vì bề mặt quanh bị mạng nhện cột chặt vào các cây cỏ mọc dưới nước. 
Karik nói: 
- Úi chà, chúng cháu vất vả lắm mới chui qua được lớp mạng nhện đó. 
- Nhện mang không khí vào chuông từ mặt đầm. Nó trồi lên trên và phơi ra ngoài cái bụng phệ phủ đầy lông tơ. Chính những lông tơ này đã hút không khí. Khi khoảng không gian giữa các lông tơ đã chứa đầy không khí, nhện bèn phủ lên bụng lớp mạng nhện và mang bình không khí như một bọc cuộn dưới vạt áo về nhà mình. Luôn tiện bác muốn nói là nhiều loại bọ nước cũng đi du lịch dưới nước với các va li đựng không khí. 
- Thế không khí có đủ cho một thời gian lâu không bác? 
Ivan Germogenovich đáp: 
- Không, dự trữ đó không được lâu. Lúc đó căn nhà sẽ ngột ngạt... Các cháu có nhớ là đã bị ngạt thở thế nào chứ? 
- Có ạ. 
- Thông thường con Arguironet hung ác phải ngoi lên mặt đầm vài lần để lấy không khí mới... Nếu chịu khó kiên nhẫn ngồi im lặng trên bờ đầm có thể thấy được con Argnironet - "bó sợi